spot_imgspot_imgspot_imgspot_img
HomeTin chuyên ngànhChuyển đổi số trong ngành dịch vụ logistics việt nam: Cơ hội...

Chuyển đổi số trong ngành dịch vụ logistics việt nam: Cơ hội tạo đột phá, hiện trạng và thách thức

Ngành dịch vụ Logistics có vai trò thiết yếu, là ngành dịch vụ mũi nhọn, có giá trị gia tăng cao, làm nền tảng cho phát triển thương mại, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Xu hướng chuyển đổi từ kinh doanh truyền thống sang các nền tảng số đang ngày càng trở nên phổ biến và được coi là giải pháp hữu hiệu giúp các doanh nghiệp thâm nhập và mở rộng thị trường XNK, Logistics trong bối cảnh Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới và cuộc cách mạng số đang phát triển mạnh mẽ trên toàn cầu.

Hiện nay, thị trường Logistics Việt Nam có sự tham gia của khoảng 3.000 DN trong nước và khoảng 30 DN cung cấp dịch vụ Logistics xuyên quốc gia, với các tên tuổi lớn như: DHL, FedEx, CJ Logistics… Các DN Logistics có quy mô vừa và nhỏ, trong đó 89% là DN Việt Nam, 10% DN liên doanh và 1% là DN 100% vốn nước ngoài.

Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp vận tải và Logistics nội địa còn thấp so với doanh nghiệp FDI, số lượng doanh nghiệp ít hơn nhưng chiếm 70-80% thị phần. Dịch vụ chủ yếu mà các doanh nghiệp kinh doanh Logistics Việt Nam cung ứng cho khách hàng là các dịch vụ cơ bản, hoặc cung cấp từng dịch vụ đơn lẻ, cạnh tranh về giá là chủ yếu, ít giá trị gia tăng, thường chỉ đóng vai trò là nhà thầu phụ hay đại lý cho các công ty nước ngoài như dịch vụ kho bãi, vận tải hàng hóa, giao nhận hàng hóa, bốc xếp, dịch vụ phân loại, đóng gói bao bì, lưu kho… còn các dịch vụ khác trong chuỗi dịch vụ Logistics mặc dù có một số doanh nghiệp cung ứng nhưng số lượng không nhiều và chưa được quan tâm phát triển.

Theo Hiệp hội doanh nghiệp (DN) dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA), tốc độ phát triển của ngành Logistics tại Việt Nam những năm gần đây đạt hoảng 14%-16%, với quy mô khoảng 40-42 tỷ USD/năm. Đặc biệt, thời gian gần đây, COVID-19 đã làm thay đổi cách tiêu dùng, phương thức hoạt động, trao đổi thương mại và phương thức hậu cần trực tuyến (e-Logistics). Theo nghiên cứu của công ty tư vấn chiến lược toàn cầu McKinsey, quá trình chuyển đổi số đáng lẽ cần 5 năm để áp dụng vào DN và người tiêu dùng, thì nay chỉ mất 8 tuần nhờ cú hích từ đại dịch.

Điều này cho thấy, sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường dịch vụ Logistics vốn rất nhiều tiềm năng. Tuy nhiên, do tác động của đại dịch COVID-19 nên chuỗi cung ứng đã bị đứt gãy và đảo lộn, trong đó có các hoạt động Logistics -xương sống của chuỗi cung ứng.

Thực tế đó đặt ra yêu cầu cần đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực Logistics để vừa khắc phục được những vấn đề nảy sinh trong đợt dịch bệnh vừa qua, vừa có thể tận dụng được lợi thế hiện nay của cách mạng số và thành tựu Cách mạng công nghiệp 4.0.
Ngoài ra, các nghiên cứu cũng cho thấy, quá trình chuyển đổi số mang lại nhiều lợi ích như cắt giảm chi phí hoạt động, tiếp cận được nhiều khách hàng hơn, trong thời gian dài hơn, lãnh đạo ra quyết định nhanh chóng và chính xác hơn, qua đó, các DN cung cấp dịch vụ Logistics sẽ thay đổi tư duy trì trệ, tạo sự đột phá để nâng cao năng lực cạnh tranh, giảm chi phí Logistics, tăng trưởng, có thêm khách hàng và đạt lợi nhuận tối đa vượt trội so với trước khi chuyển đổi số.

Cơ hội để đột phá từ chuyển đổi số cho ngành Logistics

Việc tăng cường ứng dụng công nghệ với những tiến bộ của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang được đa số doanh nghiệp kỳ vọng sẽ làm thay đổi ngành Logistics nhiều nhất với những lợi ích hàng đầu như tăng năng suất lao động, cắt giảm chi phí, cải thiện chiến lược kinh doanh, nâng cao hiệu quả theo dõi Logistics và quản lý vòng đời sản phẩm và củng cố hệ thống vận hành….Cụ thể như sau:

– Lập kế hoạch chính xác: Nâng cấp các công nghệ số khiến việc quản lý chuỗi cung ứng và Logistics trở nên chính xác và mạch lạc hơn. Tận dụng dữ liệu sắc bén tạo được tích hợp bởi hệ thống như ERP giúp tập trung hỗ trợ hợp lý hóa các hoạt động giao dịch, lập kể hoạch đầu cuối, quản lý kho hàng cũng như dự đoán mức doanh số. Ứng dụng công nghệ số cũng có thể giúp dự đoán và cảnh báo các vấn đề có thể xảy ra, ví dụ như sự ngắt quãng trong chuỗi cung ứng. Các giải pháp dữ liệu mang lại nhiều lợi ích giúp các nhà quản lý Logistics đưa ra những quyết định quan trọng nhanh chóng và chính xác hơn dựa trên những thông số cụ thể, ám chỉ ra liên kết, mạch lạc trong bộ phận cung ứng, chuỗi cung ứng và điều vận.

Hình 1: Nền tảng chuyển đổi số trong Logistics

– Rút ngắn khoảng cách giữa cung và cầu: Những tiến bộ gần đây trong công nghệ Deep Learning, một nhánh thuộc công nghệ Trí tuệ nhân tạo AI, đã giúp cải thiện khả năng xử lý và thấu hiểu nguồn thông tin đầu vào dưới dạng dữ liệu phi cấu trúc. Phần lớn tương tác giữa khách hàng và các nhà cung ứng, tích hợp thông qua các dữ liệu đầu vào được thu thập bởi hệ thống AI, ví dụ từ những bình luận trên mạng xã hội, phản hồi nói của người mua hàng. Với quyền truy cập vào bộ dữ liệu lớn chứa các cụm từ tương tự và thông tin liên quan, AI nắm bắt được bối cảnh mua hàng của khách hàng, bối cảnh đặt hàng của đối tác để từ đó sử dụng dữ liệu này mang lại giá trị sâu sắc trong chuỗi cung ứng để. Bằng cách này, dữ liệu đã rút ngắn lại khoảng cách cung và cầu giữa khách hàng và nhà cung ứng.

Hình 3: Hệ thống IoT trong Logistics

– Nâng cao mức độ hài lòng của khách hàng: Trải nghiệm của khách hàng trong thời đại 4.0 đã và đang dần chuyển dịch từ truyền thống sang số hóa. Trải nghiệm khách hàng trong ngành Logistics nằm tập trung ở việc giao diện, chức năng, thông tin trên nền tảng số được liên kết kết nối chặt chẽ. Những khách hàng trong ngành Logistics sẽ tìm kiếm sự liền mạch trong quy trình báo giá, đặt chỗ trực tuyến, và cân nhắc thêm nếu như nền tảng của nhà cung cấp có thêm cả các chức năng như xử lý tài liệu số và phân tích dữ liệu lô hàng. Nền tảng cung cấp sự minh bạch trong dòng chạy hoạt động của chuỗi cung ứng sẽ làm tăng trải nghiệm liền mạch, để từ đó tăng mức độ hài lòng và trung thành khách hàng.

Hiện trạng ứng dụng chuyển đổi số trong ngành dịch vụ Logistics Việt Nam

Việt Nam hiện đã trở thành thành viên của 16 hiệp định thương mại tự do; trong đó có những hiệp định thương mại tự do thế hệ mới với tầm cỡ và quy mô lớn như Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-Liên minh châu Âu (EVFTA), Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện khu vực (RCEP)…

Trong những năm qua, Việt Nam đã rất quan tâm đến phát triển dịch vụ Logistics- xương sống của nền kinh tế số. Chính phủ đặt ra mục tiêu ngành dịch vụ Logistics phấn đấu đạt tỷ trọng 8%-10% GDP, tốc độ tăng trưởng dịch vụ đạt 15%-20%, tỷ lệ thuê ngoài dịch vụ Logistics đạt 50%-60%, xếp hạng theo chỉ số năng lực quốc gia về Logistics (LPI) trên thế giới đạt thứ 50 trở lên…

Theo số liệu của VLA, hiện nay, các DN Logistics Việt Nam đang cung cấp từ 2 đến 17 dịch vụ Logistics khác nhau, trong đó chủ yếu là dịch vụ giao nhận, vận tải, kho hàng, chuyển phát nhanh và khai báo hải quan. 50%-60% DN đang ứng dụng các loại hình công nghệ khác nhau, tùy theo quy mô và tính chất dịch vụ của từng DN.

Trước tình trạng cạnh tranh và sự bùng nổ của nền kinh tế số, cùng với thương mại điện tử ngày càng nhanh mạnh, đặc biệt trước áp lực của dịch Covid-19, các DN Logistics đã phần nào nhận thức được vấn đề đẩy nhanh chuyển đổi số và ứng dụng những thành tựu công nghệ vào hoạt động kinh doanh nhằm tăng cường hiệu quả kinh tế, cũng như tối ưu hóa trong các dây chuyền sản xuất, cung ứng sản phẩm. Hoạt động này được thúc đẩy và phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn khi làn sóng Covid-19 xuất hiện.

Hiện nay, một số DN lớn đã áp dụng thành công giải pháp công nghệ mang lại hiệu quả cho dịch vụ Logistics, giảm đáng kể chi phí liên quan. Chẳng hạn, cảng điện tử (ePort) và lệnh giao hàng điện tử (eDO) tại Tân Cảng Sài Gòn; ứng dụng giải pháp tổng thể trong dịch vụ Logistics tại Công ty T&M Forwarding, số hóa chứng từ vận tải (Invoicing and Payments), đầu tư vào ứng dụng giải pháp tổng thể trong dịch vụ Logistics (Saas), dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây (Cloud Computing), nhà kho thông minh (Smart Warehousing)…

Cũng theo khảo sát của Vietnam Report, 58% nhà cung cấp dịch vụ Logistics đã rút ngắn lộ trình công nghệ. Mô hình làm việc từ xa cũng đang được các doanh nghiệp trong ngành áp dụng nhằm đảm bảo an toàn y tế và lao động tại nơi làm việc. 82% số doanh nghiệp tham gia khảo sát cho biết đang áp dụng mô hình làm việc từ xa; 65% số doanh nghiệp tin rằng xu hướng này sẽ còn tiếp diễn trong tương lai. Đó cũng chính là lợi thế mà mô hình làm việc từ xa đem lại và với sự hỗ trợ của công nghệ, ngành Logistics không còn bị giới hạn bởi khoảng cách địa lý và đã trở thành Logistics xuyên biên giới.

Tuy nhiên, ngành Logistics Việt Nam vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng. Các DN dịch vụ Logistics Việt Nam nói chung, vẫn chưa nhận thức đúng vai trò chuyển đổi số trong cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Để chuyển đổi số thành công thì việc xác định tư duy số rõ ràng ngay từ ban đầu vô cùng quan trọng. Với 6 giai đoạn được chia tách rõ ràng: Tin học hóa – Phần mềm hóa, chương trình hóa – Số hóa – Mạng hóa – Đồng bộ hóa – Tương tác hóa các sản phẩm dịch vụ hóa.

Hình 4: Tư duy số – 6 giai đoạn chuyển đổi số

Với các công ty trong nước, chỉ có những DN lớn như: Công ty Tân Cảng, Gemadept, Vinafco, U&I, TBS, Transimex, Sotrans… mới có đủ nguồn lực để phát triển các ứng dụng quản lý kho hàng, đạt mức đồng bộ dữ liệu giữa các bộ phận giao hàng, quản lý hàng tồn, kế toán tài chính.

Các thách thức đặt ra:

Bên cạnh những cơ hội, nỗ lực chuyển đổi số trong lĩnh vực Logistics hiện nay cho thấy một số khó khăn, thách thức cơ bản như sau:

– Về tiềm lực tài chính: Theo VLA, quá trình chuyển đổi số có chi phí rơi vào khoảng từ 200 triệu tới hàng chục tỷ đồng. Tuy nhiên, phần lớn các DN cung cấp dịch vụ Logistics là các DN có quy mô nhỏ, tiềm lực tài chính còn yếu và đây là một mức chi phí tương đối cao. Nhiều DN cho biết, nếu đầu tư theo hướng tự động hóa như các mô hình và phần mềm nước ngoài thì tốn nhiều chi phí đầu tư ban đầu; còn nếu tự làm theo mô hình nội bộ sẽ mất nhiều thời gian, khó khăn, chi phí nguồn nhân lực công nghệ thông tin… Bài toán nan giải về nguồn lực tài chính dành cho đầu tư chuyển đổi số rất cần có sự hỗ trợ của Nhà nước và các tổ chức tài chính tín dụng…

– Về tiềm lực công nghệ: Theo khảo sát năm 2018 của VLA, khoảng 40% các ứng dụng công nghệ thông tin hiện đang được sử dụng tại các DN Logistics là các ứng dụng cơ bản như quản lý giao nhận quốc tế, quản lý kho hàng, quản lý vận tải, trao đổi dữ liệu, đặc biệt khai báo hải quan được ứng dụng nhiều nhất 75-100%. Đa số DN mới chỉ dừng ở mức độ số hóa, tức là chuyển dữ liệu hoạt động sang dạng lưu trữ điện tử chứ chưa có sự kết nối và khả năng tra cứu số liệu cũng như xử lý đơn hàng trên nền tảng trực tuyến.
Nhìn chung, mức độ ứng dụng khoa học công nghệ tại Việt Nam còn chưa cao, đa phần là các giải pháp đơn lẻ. Các phần mềm tiêu chuẩn quốc tế chưa ứng dụng được nhiều tại Việt Nam.

– Về nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực Logistics của Việt Nam không những thiếu về số lượng mà còn yếu về chất lượng. Đặc biệt, những người đang nắm vị trí chủ chốt dù đã được đào tạo hoặc tái đào tạo nhưng cơ bản vẫn còn thiếu kiến thức và kinh nghiệm kinh doanh Logistics.

Theo kết quả khảo sát mới đây của Viện Nghiên cứu phát triển TP. Hồ Chí Minh, có đến 53,3% DN thiếu đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn, kiến thức Logistics; 30% DN phải đào tạo lại nhân viên và chỉ có 6,7% DN hài lòng với chuyên môn của nhân viên…

– Về tiềm lực cạnh tranh: Hiện nay, dù phần lớn các DN Logistics thuộc về DN nội nhưng thực tế, sức cạnh tranh so với các DN lớn quốc tế lại cho thấy rất nhiều vấn đề, chủ yếu bắt nguồn từ những hạn chế đã đề cập gồm: Tiềm lực tài chính yếu, công nghệ lạc hậu, thiếu nguồn chất lượng cao. Ngoài ra, còn phải kể đến các nguyên nhân khác như: thiếu kỹ năng quản trị, bộ máy cồng kềnh… Nhiều DN Việt đang phải đối mặt với thách thức và sự cạnh tranh gay gắt đến từ phía thị các DN nước ngoài, với những đơn vị dày dặn kinh nghiệm, khả năng cung cấp dịch vụ và tiềm lực tài chính tốt hơn…

2. CHUYỂN ĐỔI SỐ: BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA VIETTEL POST

Tổng Công ty Cổ phần Bưu chính Viettel được thành lập năm 1997, là công ty thành viên trực thuộc Tập đoàn Công nghiệp Viễn thông Quân đội. Xuất thân là 1 doanh nghiệp quân đội, kinh doanh lĩnh vực chuyển phát truyền thống, những năm gần đây Viettle Post liên tục gặt hái được những thành công trong công cuộc chuyển đổi số ngành Logistics. Năm 2018, ra mắt ứng dụng giao hàng Viettel Post tích hợp nhiều công nghệ đột phá đánh dấu bước chuyển mình của một doanh nghiệp truyền thống trong cuộc CMCN 4.0. Năm 2019, đồng thời ra mắt 2 sản phẩm: sàn vận tải đa phương thức MyGo và sàn TMĐT Voso.vn hỗ trợ người dân bán nông sản. Đây là những sản phẩm chiến lược nằm trong hệ sinh thái số của Viettel Post nói riêng và tập đoàn Viettel nói chung.

Quá trình triển khai chuyển đổi số:

Viettel Post bắt đầu tăng tốc quá trình chuyển đổi số Logistics bằng việc cung cấp đến khách hàng đầy đủ các nền tảng: Hệ thống quản lý đơn hàng, Hệ thống quản lý kho hàng Efulfillment, Hệ thống quản lý- giám sát hành trình vận tải. Viettel Post sẽ cung cấp trọn gói dịch vụ hậu cần hỗ trợ một cách tối ưu cho khách hàng, khách hàng chỉ cần tập trung vào hoạt động bán hàng. Để phục vụ khách hàng tốt hơn, Viettel Post đẩy mạnh số hóa mảng Logistics bằng việc đưa vào hoạt động hệ thống băng chuyền chia chọn tự động…. Trong khâu giao hàng chặng cuối, Viettel Post đã triển khai sàn vận chuyển đa phương thức MyGo. Dựa trên mô hình kinh tế chia sẻ, kết hợp với các đối tác vận tải, MyGo cung cấp dịch vụ đa dạng, phù hợp với mọi đối tượng như gửi kiện, gửi lô, nguyên chuyến…

Thuận lợi trong quá trình Chuyển đổi số:

Với phương châm “Mạng lưới đi trước, kinh doanh theo sau”, năm 2015, hệ thống mạng lưới Bưu chính Viettel đã mở rộng đến 100% thôn xã (bao gồm xã đảo) trên toàn quốc. Những năm tiếp theo, Viettel Post phát triển cơ sở hạ tầng, đầu tư, nâng cấp mạng lưới bưu cục và trung tâm khai thác. Năm 2020, Viettel Post có 22.000 nhân sự, trong đó trình độ từ đại học trở lên chiếm 52%.

Được xác định là 1 trong 4 trụ cột phát triển chiến lược của Tập đoàn, Viettel Post nhận được sự hỗ trợ rất lớn về Công nghệ thông tin từ Tập đoàn Viettel. Những công nghệ hiện đại trong lĩnh vực viễn thông, quân sự… sẽ được Viettel Post kế thừa để ứng dụng trong ngành Logistics:

  • Dữ liệu lớn là kho dữ liệu khổng lồ từ nhiều nguồn khác nhau được tạo ra bởi công nghệ IoT. Kết hợp với trí tuệ nhân tạo để xử lý kho dữ liệu Data Lake: xuất báo cáo phân tích tự động, báo cáo định kỳ, phân tích thị trường, phân tích nhu cầu của khách hàng…để từ đó xây dựng chiến lược chuỗi cung ứng dài hạn cho TCT.

Hình 1: Trung tâm điều hành Viettel Post

  • Tự động hóa kho hàng: Xử lý đơn hàng sẽ thông minh hơn với các công nghệ: Băng chuyền tự động, robot lấy hàng tự động, đóng gói tự động…Tăng năng suất xử lý, giảm thiểu sai sót.
  • Công nghệ chuyển phát: Sử dụng công nghệ tự hành để giao hàng chặng cuối: Máy bay giao hàng drone, xe giao hàng tự hành…

Hình 2: Viettel Post áp dụng các công nghệ mới trong giao hàng

Xây dựng hệ sinh thái số Viettel Post:

– Ứng dụng chuyển phát ViettelPost: Nếu như trước đây, để chuyển phát nhanh, khách hàng sẽ mang bưu phẩm ra bưu cục hoặc gọi qua trung tâm thông tin để nhân viên đến lấy. Còn bây giờ, khách hàng chỉ cần ngồi nhà, nhập thông tin, bưu tá của Viettel Post sẽ đến phục vụ. Ứng dụng được tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI), Big data để tăng tốc độ tạo đơn, quản lý đơn hàng, theo dõi quá trình giao hàng, tra cứu các điểm gửi hàng của Viettel Post trên cả nước, tính cước phí chính xác….

– Sàn vận chuyển đa phương thức MyGo: Vào thời điểm hiện nay, các con số thống kê cho thấy, chi phí logistic của Việt Nam cao hơn nhiều so với thế giới, chiếm tới 20 – 25% GDP. Nguyên nhân đến từ hạ tầng bưu chính chưa thực sự được tối ưu, 70% chuyến xe chạy rỗng chiều về, sự đầu tư không đồng bộ và liên kết lỏng lẻo giữa các công ty hoạt động trong ngành chuyển phát.

Hình 3: Liên kết lỏng lẻo giữa các công ty chuyển phát gây nên sự tắc nghẽn hạ tầng

Xuất phát từ thực tế đó, Viettel Post đã cho ra đời ứng dụng MyGo – sàn vận chuyển đa phương thức áp dụng mô hình kinh tế chia sẻ, sử dụng nguồn lực dùng chung để phục vụ khách hàng. Các dịch vụ của MyGo như: giao hàng nội tỉnh, gửi kiện, gửi lô, thuê nguyên chuyến xe tải…

– Sàn TMĐT Vỏ Sò: Với chiến lược không “đốt tiền” cho marketing, Vỏ Sò lựa chọn thị trường ngách cùng với những lợi thế riêng của Viettel Post mà các sàn TMĐT khác không thể cạnh tranh. Hướng đi cho nền tảng TMĐT Voso.vn sẽ là công cụ hữu hiệu giúp đỡ bà con nông dân, đưa các sản phẩm là sản vật vùng miền đến tay người tiêu dùng cuối cùng thông qua các nền tảng trực tuyến. Vỏ sò đã phát huy lợi thế mạng lưới của Viettel Post để xây dựng mỗi tỉnh có một gian hàng đặc sản của địa phương. Đặc sản địa phương trên Vỏ sò có cam kết nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, được cung cấp bởi các nhà sản xuất có uy tín và được kiểm định chất lượng bởi Bưu chính Viettel.

Vỏ Sò chính là cách để Viettel Post đồng hành chuyển đổi số cùng bà con, góp phần chuyển đổi số tại các địa phương, đưa TMĐT vươn đến các vùng nông thôn trên toàn đất nước. Ngoài ra, chương trình bán hàng liên kết O2O trên Vỏ sò hiện tại đang thu hút nhiều đối tác. Chất lượng sản phẩm đảm bảo và hoa hồng tốt là hai yếu tố để duy trì mạng lưới đối tác của Viettel Post.

Hình 4: Vỏ Sò đồng hành chuyển đổi số cùng bà con nông dân

Kết quả đạt được:

Viettel Post luôn tập trung giải quyết vấn đề và cá thể hóa đến từng khách hàng. Mục tiêu của chúng tôi là tất cả các quy trình, công đoạn trong chuyển phát đều phải được công nghệ hóa, số hóa. Năm 2019, thông qua việc tin học hóa và cơ giới hóa bằng 14 dự án công nghệ, Viettel Post đang xây dựng hệ sinh thái công nghệ cung cấp cho khách hàng những công cụ quản lý bán hàng tập trung, kết nối đa kênh, tương tác nhiều chiều, thực sự hữu ích và giải quyết hàng loạt vấn đề gặp phải trong kinh doanh và bán hàng.

Kết quả giai đoạn 2018-2020 là quãng thời gian đánh dấu tốc độ tăng trưởng doanh thu nhanh và ổn định nhất của Tổng Công ty trong vòng 23 năm qua. Năm 2019, Tổng doanh thu đạt 7.811 tỷ đồng, tăng 58.7% so với năm 2018. Doanh thu bán niên 2020 đạt 6.798 tỷ đồng, bằng 87% so với cả năm 2019.

– Băng chuyền chia chọn tự động: Vấn đề của quy trình cũ là khai thác hàng bằng tay nên tỷ lệ sau sót rất lớn. Còn bây giờ, khi quy trình được số hoá, công nghệ sẽ kiểm soát và xác định cụ thể đường đi của bưu phẩm. Nếu nhân viên thực hiện sai sẽ bị phát hiện ngay bởi quy trình không được thực hiện đúng. Sau đó, Viettel Post tiếp tục đầu tư hoàn thiện hệ thống Băng chuyền chia chọn của riêng mình với công suất 36.000 bưu phẩm mỗi giờ. Nhờ băng chuyền này mà thời gian toàn trình của bưu phẩm dược rút ngắn 4- 6h, giảm 86% nhân lực và 48% chi phí nhân công.

Hình 5: Hệ thống Băng chuyền chia chọn tự động của Viettel Post

– Tối ưu mạng lưới: Sử dụng thuật toán tối ưu, Viettel Post chuyển mô hình vận hành từ Hub to Spoke sang Point to Point. Kết quả: Giảm 996 điểm kết nối, tổng quãng đường di chuyển giảm 1.9 triệu km, tổng chi phí giảm 10 tỷ/ tháng…

– Sản phẩm số: Hiện ViettelPost đã có hơn 1 triệu user sử dụng và nằm trong top 3 ứng dụng doanh nghiệp tại App Store và Google Play. Hiện MyGo đang duy trì 87.000 đối tác fulltime active, thu nhập trung bình 600.000 đồng/người/ngày. Nền tảng Voso.vn đã có 144.632 nhà cung cấp với hơn 255.000 sản phẩm các loại.

Bài học kinh nghiệm:

Thời kỳ bắt đầu triển khai, mức độ ứng dụng CNTT tại Viettel Post vẫn còn thấp, chưa đồng bộ, vẫn còn nhiều công đoạn xử lý thủ công có thể số hóa được: xuất dữ liệu để làm báo cáo tự động, cảnh báo tự động các KPI điều hành…Với số lượng CBNV đang công tác rất lớn và trải dài tại tất cả mọi miền, Viettel Post xác định khó khăn lớn nhất của chuyển đổi số không nằm ở công nghệ mà là nhân sự, phải thay đổi nhận thức về chuyển đổi số, bởi nếu con người không thay đổi để thích ứng thì không thể chuyển đổi số thành công được.

Để chuyển đổi số thành công phải nhanh chóng thay đổi tư duy của người lao động để đạt sự đồng thuận từ cấp lãnh đạo cao nhất đến mỗi nhân viên cấp dưới. Theo đó, cán bộ nhân viên phải chủ động nhận thức được lợi ích của chuyển đổi số dưới góc độ mỗi cá nhân thì cả tập thể mới có thể CĐS được.

Tỷ lệ chính xác tăng, năng suất làm việc của nhân viên sẽ tăng. Viettel Post tiếp thực hiện chuyển dịch chiến lược là chuyển toàn bộ nhân viên giao nhận thành nhân viên bán hàng. Chuyển từ 0.4 sang 4.0 phải giải quyết được bài toán con người: “Công nghệ giúp cuộc sống tốt đẹp hơn chứ không phải lấy đi sự tốt đẹp của cuộc sống”.

Trạm hạnh phúc – chạm yêu thươnghttps://viettelpost.com.vn/tin-tuc/viettel-post-trien-khai-tram-yeu-thuong-cham-hanh-phuc-ho-tro-nguoi-yeu-the-tai-thanh-pho-ho-chi-minh/

Tin mới